Trao đổi về bãi bỏ văn bản QPPL trái pháp luật

Một số xã có hỏi thủ tục bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật, Phòng trao đổi như sau:
1. Thể loại văn bản và thẩm quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật:
Theo Khoản 1, Điều 12 Luật Ban hành văn bản QPPL: “Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền”. 
=> Nghị quyết QPPL của HĐND xã thì HĐND xã ra Nghị quyết QPPL để bãi bỏ; Quyết định QPPL của UBND xã thì UBND xã ra Quyết định QPPL để bãi bỏ.
2. Thủ tục để bãi bỏ:
2.1. Trách nhiệm tự kiểm tra:
Theo Điểm e, Khoản 2, Điều 111 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP: 
“2. Cơ quan, người có trách nhiệm giúp… Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp… tự kiểm tra văn bản:
e) Công chức tư pháp - hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc tự kiểm tra văn bản”.
=> Khi thấy văn bản QPPL của HĐND và UBND xã có dấu hiệu trái pháp luật, thì Công chức Tư pháp – Hộ tịch xã tiến hành tự kiểm tra đối với văn bản QPPL đó.
2.2. Nội dung báo cáo tự kiểm tra:
Khoản 2, Điều 112, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP: “Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật gồm những nội dung sau:
a) Đánh giá nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản và đề xuất hướng xử lý, thời hạn xử lý, biện pháp khắc phục hậu quả do văn bản gây ra (nếu có);
b) Xác định trách nhiệm của cán bộ, công chức tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và ban hành văn bản”.
3. Xử lý văn bản trái pháp luật:
Khoản 1 và Khoản 3 Điều 112 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP:
“1. Khi phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan, đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 111 của Nghị định này có trách nhiệm lập hồ sơ kiểm tra văn bản và báo cáo ngay kết quả kiểm tra văn bản với cơ quan, người đã ban hành văn bản đó để xem xét, xử lý theo quy định”.
“3. Cơ quan, người ban hành có trách nhiệm xử lý kịp thời văn bản trái pháp luật đã ban hành”.
Cụ thể, nếu Nghị quyết QPPL của HĐND hoặc Quyết định QPPL của UBND đã được tự kiểm tra mà cần bãi bỏ thì HĐND hoặc UBND ra Nghị quyết hoặc Quyết định bãi bỏ theo mục 1 trên.
4. Lưu ý: Lý do bãi bỏ phải ghi rõ là trái với quy định tại điều, khoản nào của văn bản nào.
Các bài viết liên quan
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây