Một số vấn đề về thừa kế

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỪA KẾ
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc pháp luật.
(Điều 609, Điều 610 Bộ Luật Dân sự)
Việc thừa kế di sản được phát sinh từ thời điểm nào?
Việc thừa kế di sản được phát sinh từ thời điểm người có tài sản chết (thời điểm mở thừa kế). Đối với trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thời điểm mở thừa kế của người này được tính từ ngày Tòa án xác định trong bản án, quyết định của Tòa án.
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
Trường hợp người để lại di sản có lập di chúc thì di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Thời điểm mở thừa kế cũng là thời điểm để xác định người thừa kế của người để lại di sản. Trường hợp người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành 
thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
(Khoản 2 Điều 71, khoản 1 Điều 611, Điều 613, Điều 614, khoản 1 Điều 643 Bộ Luật Dân sự)
Di sản của người chết được xác định như thế nào?
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong phần tài sản chung với người khác.
Trường hợp phần tài sản của người chết nằm trong tài sản chung của vợ chồng thì tài sản chung của vợ chồng chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết trở thành di sản của họ và được chia theo quy định pháp luật về thừa kế.
Trường hợp phần tài sản của người chết nằm trong khối tài sản chung theo phần với người khác thì việc xác định phần tài sản của người này, trước hết căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật; trường hợp không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định thì xác định theo phần quyền sở hữu mà người chết có trong khối tài sản chung.
Lưu ý: trường hợp người chết có để lại nghĩa vụ tài sản hoặc các khoản chi phí liên quan đến thừa kế thì người thừa kế được nhận di sản của người chết sau khi thanh toán nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí nêu trên.
(Điều 209, Điều 212, Điều 219, Điều 612, Điều 615, Điều 658 Bộ Luật Dân sự; khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình)
Một cá nhân có quyền hưởng di sản trong trường hợp nào?
Một cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tuy nhiên trong thực hiện quyền này thì cần lưu ý một số nội dung sau:
  • Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trường hợp có người thừa kế thế vị thì áp dụng thừa kế thế vị cho người này.
  • Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người khác. Trường hợp hợp này, người thừa kế không được hưởng toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình từ chối;
  • Người không được hưởng quyền di sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì sẽ bị tước quyền hưởng di sản, trừ trường hợp người để lại di sản biết họ thuộc diện này nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
 (Điều 609, Điều 613, Điều 620, Điều 621, Điều 652 Bộ Luật Dân sự)
Ai là người có quyền lập di chúc?
Người lập di chúc chỉ có thể là cá nhân.
Trường hợp người lập di chúc là người thành niên thì người này phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép.
Trường hợp người lập di chúc là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì việc lập di chúc phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người chưa thành niên chưa đủ 15 tuổi không có quyền lập di chúc.
(Điều 625, điểm a khoản 1 Điều 630 Bộ Luật Dân sự)
Người hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ có được quyền lập di chúc không?
Người hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ có quyền lập di chúc nếu họ đáp ứng được các điều kiện đối với người lập di chúc (Xem nội dung trả lời của câu hỏi “Ai là người có quyền lập di chúc”). Tuy nhiên do hạn chế về thể chất hoặc do không biết chữ nên pháp luật quy định di chúc của những người này phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
(Khoản 3 Điều 630 Bộ Luật Dân sự)
Người lập di chúc có những quyền nào trong việc lập di chúc?
Người lập di chúc có quyền tự do thể hiện ý chí của mình nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác trong đó có quyền:
  • Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
  • Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
  • Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
  • Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
  • Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào.
(Điều 624, Điều 626, khoản 1 Điều 640 Bộ Luật Dân sự)
Một di chúc gồm những nội dung chủ yếu nào?
Một di chúc gồm có những nội dung chủ yếu sau đây:
  • Ngày, tháng, năm lập di chúc;
  • Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
  • Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng tài sản;
  • Tài sản để lại gồm những tài sản gì và những tài sản đó được đặt ở đâu.
Ngoài các nội dung nêu trên, di chúc có thể có các nội dung khác theo ý chí của người lập di chúc.
Lưu ý: để tránh có những cách hiểu khác nhau, bảo đảm sự thống nhất, logic về nội dung di chúc thì di chúc không được viết tắt, viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trong di chúc không nên có tẩy xóa, sửa chữa, trường hợp có tẩy xoa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
(Điều 631 Bộ Luật Dân sự).
Cá nhân khi lập di chúc thì có thể lựa chọn hình thức di chúc nào?
Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
Di chúc bằng văn bản bao gồm:
  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
  • Di chúc bằng văn bản có công chứng;
  • Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Di chúc bằng miệng chỉ được áp dụng trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Sau 3 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ. Cá nhân muốn lập lại di chúc trong trường hợp này phải theo hình thức di chúc bằng văn bản.
(Điều 627, Điều 628, Điều 629 Bộ Luật Dân sự).
Trường hợp tôi lập di chúc bằng văn bản thường mà không có công chứng, chứng thực thì có hợp pháp hay không?
Trường hợp di chúc bằng văn bản như bạn nêu chỉ được coi là hợp pháp nếu bạn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; di chúc bạn lập không có nội dung vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, khi lập di chúc, bạn cần lưu ý quy định sau đây:
  • Trường hợp người lập di chúc là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì việc lập di chúc phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý;
  • Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng hợp pháp.
(Khoản 1, 2, 4 Điều 630, Điều 631, Điều 632, Điều 634 Bộ Luật Dân sự)
Trường hợp lập di chúc nào cần có người làm chứng và người làm chứng cần có điêu kiện gì?
Việc lập di chúc cần có người làm chứng trong những trường hợp sau:
  • Lập di chúc miệng;
  • Lập di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết
chữ;
  • Việc lập di chúc do người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc mà không phải người lập di chúc trực tiếp thực hiện, kể cả trong trường hợp tại UBND cấp xã hoặc tại tổ chức hành nghề công chứng.
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau
đây:
  • Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
  • Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
(khoản 3, 5 Điều 630, Điều 632, Điều 634, khoản 2 Điều 636 Bộ Luật Dân sự)
Trường hợp việc lập di chúc có công chứng thì người lập di chúc có được ủy quyên cho người khác thực hiện việc công chứng di chúc không?
Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc.
Trường hợp không thể trực tiếp đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc vì lý do cần thiết khác, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng viên tới chỗ ở của mình để lập di chúc. Trường hợp này, thủ tục lập di chúc vẫn được tiến hành như thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng.
(Điều 636, Điều 639 Bộ Luật Dân sự; khoản 1, 3 Điều 56 Luật công chứng)
Trường hợp một người đang điêu trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điêu dưỡng khác; người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh thì có quyên lập di chúc không?
Những người được nêu trong câu hỏi nếu đáp ứng đủ các điều kiện về việc lập di chúc (xem nội dung trả lời câu hỏi “Ai là người có quyền lập di chúc?”) thì có thể lập di chúc theo hình thức phù hợp với quy định pháp luật (xem nội dung câu hỏi “Cá nhân khi lập di chúc thì có thể lựa chọn hình thức di chúc nào?”).
Người lập di chúc trong trường hợp này có thể lấy xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó vào di chúc bằng văn bản của mình. Trường hợp này di chúc có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.
(Điều 625, khoản 3 Điều 638 Bộ Luật Dân sự)
Cha của tôi do ảnh hưởng tư tưởng phong kiến phân biệt nam nữ có lập di chúc theo đó không cho mẹ đẻ và vợ của ông được hưởng di sản thừa kế. Xin hỏi di chúc có nội dung như vậy có hợp pháp hay không?
Về nguyên tắc, cha của bạn có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người hưởng thừa kế, phân định phần di sản cho từng người thừa kế (xem nội dung trả lời câu hỏi “Người lập di chúc có những quyền nào trong việc lập di chúc?”). Tuy nhiên, những quyền này có thể bị hạn chế nếu cha bạn truất quyền của một trong những người sau đây:
  • Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
  • Con thành niên mà không có khả năng lao động (ví dụ người bị hạn chế về thể chất mà không có khả năng lao động, khả năng tạo thu nhập,..).
Những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật cho dù họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó. Quy định này không áp dụng đối với trường hợp người từ chối nhận di sản hoặc người không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật.
(Điều 626, Điều 644 Bộ Luật Dân sự)
Có trường hợp nào người để lại di sản đã lập di chúc nhưng di sản của họ vẫn được chia theo pháp luật hay không?
Về nguyên tắc thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi người để lại di sản không lập di chúc. Tuy nhiên, thừa kế theo pháp luật vẫn có thể áp dụng ngay cả khi người để lại di sản có lập ở trong những trường hợp sau đây:
  • Di chúc không hợp pháp;
  • Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
  • Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
  • Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
(Điều 650 Bộ Luật Dân sự)
Người thừa kế theo pháp luật được xác định như thế nào?
Người thuộc diện thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là người có quan hệ về hôn nhân và gia đình đối với người để lại di sản. Người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự 3 hàng thừa kế như sau:
Hàng thừa kế thứ nhất, gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Hàng thừa kế thứ hai, gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba, gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
(Điều 651 Bộ Luật Dân sự)
Cha của tôi chết do tai nạn giao thông vào năm 2015, năm 2017 bà nội của tôi mất, vậy trong trường hợp này việc thừa kế của cha tôi đối với di sản của bà tôi được xác định như thế nào (tôi là con gái duy nhất của ông)?
Về nguyên tắc người thừa kế không còn sống tại thời điểm người để lại di sản chết thì không được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn nêu, pháp luật có quy định: trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Như vậy, mặc dù cha của bạn đã mất trước bà của bạn nhưng phần di sản mà đáng nhẽ cha của bạn được hưởng sẽ được chuyển cho bạn với tư cách là người thừa kế thế vị.
(Điều 613, Điều 652 Bộ Luật Dân sự)
Vợ chồng tôi đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn, trong thời gian chờ đợi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thì chồng tôi bị tai nạn chết, trường hợp này tôi có được hưởng di sản của chồng tôi hay không?
Theo quy định của Bộ Luật Dân sự, trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật mà chồng bạn chết thì bạn vẫn được hưởng thừa kế theo pháp luật. Trường hợp chồng bạn có lập di chúc thì việc hưởng thừa kế của bạn phụ thuộc vào nội dung di chúc. Tuy nhiên, nếu chồng bạn truất quyền hưởng di sản thừa kế của bạn thì bạn vẫn được hưởng quyền thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc (xem nội dung trả lời câu hỏi “Cha của tôi do ảnh hưởng tư tưởng phong kiến phân biệt nam - nữ có lập di chúc theo đó không cho mẹ đẻ và vợ của ông được hưởng di sản thừa kế. Xin hỏi di chúc có nội dung như vậy có hợp pháp hay không?”).
(Điều 613, Điều 644, khoản 2 Điều 655 Bộ Luật Dân sự)
Cha đẻ của tôi đã mất được 5 năm, đến nay anh, chị em chúng tôi vẫn chưa có yêu cầu chia di sản mà ông để lại, để việc yêu cầu chia sản phù hợp với pháp luật thì tôi cần phải thực hiện việc yêu cầu này trong thời hạn như thế nào?
Để kịp thời thực hiện các quyền, lợi ích liên quan đến hưởng di sản, bạn cần yêu cầu chia di sản trong thời hạn 30 năm đối với di sản là bất động sản, 10 năm đối với di sản là động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với trường hợp thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại thì thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
(Điều 623 Bộ Luật Dân sự)
Chồng của tôi mất, những người thừa kế của gia đình nhà chồng tôi có
yêu cầu chia di sản mà chồng tôi để lại, tuy nhiên di sản của chồng tôi gần như là nguồn sông duy nhất cho tôi và các con tôi, vậy tôi xin hỏi tôi có thể yêu cầu tạm thời không chia di sản trong thời hạn nhất định để ổn định cuộc sông hay không?

Theo quy định pháp luật, trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
Căn cứ vào quy định trên, trường hợp có tranh chấp thì chị có thể yêu cầu tòa án xem xét, áp dụng việc hạn chế phân chia di sản để tránh ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của chị và các con.
(Điều 661 Bộ Luật Dân sự)
Bố mẹ tôi mất không để lại di chúc, có tôi và hai người khác là con ruột, chúng tôi có nguyện vọng phân chia di sản thì có cần phải thỏa thuận về việc phân chia di sản hay không?
Theo quy định của pháp luật, sau khi có thông báo về việc mở thừa kế được công bố thì những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:
  • Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
  • Cách thức phân chia di sản.
Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản. Việc phân chia di sản khi đã có thỏa thuận của những người thừa kế theo pháp luật thì phải theo đúng thỏa thuận đó. Trường hợp các bên có tranh chấp về việc phân chia di sản thì tranh chấp này được giải quyết tại Tòa án. Việc phân chia di sản trong trường hợp này phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để thuận lợi, giảm thiểu chi phí, hạn chế rủi ro pháp lý, thì những người thừa kế theo pháp luật nên đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như UBND cấp cơ sở, tổ chức hành nghề công chứng để có được hướng dẫn cụ thể.
(Điều 656, khoản 2 Điều 657, Điều 660 Bộ Luật Dân sự)

Tôi bi anh A gây thiệt hại về tài sản, Tòa án đã xác đinh trách nhiệm bôi thường thiệt hại của anh A, tuy nhiên, trong thời gian chưa thực hiện nghĩa vụ, anh A mắc bệnh chết. Vậy việc bồi thường thiệt hại cho tôi thực hiện như thế nào?
Theo quy định của pháp luật, trường hợp người chết để lại nghĩa vụ về tài sản thì người có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ này trong thời hạn 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản. Trường hợp có nhiều nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế thì tiền bồi thường thiệt hại được thanh toán cho bên bị thiệt hại sau khi đã thanh toán theo thứ tự các chi phí và nghĩa vụ tài sản sau đây:
  • Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
  • Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
  • Chi phí cho việc bảo quản di sản;
  • Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
  • Tiền công lao động.
(Khoản 3 Điều 623, Điều 658 Bộ Luật Dân sự)
Vợ chồng tôi cùng lập một di chúc chung để xác định di sản mà vợ chồng để lại sau khi chết cho các con. Vậy trường hợp chồng tôi mất trước tôi thì di chúc này có hiệu lực hay không?
Theo quy định của pháp luật, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết), thời điểm này là căn cứ để xác định người thừa kế của chồng chị, quyền, nghĩa vụ tài sản của họ. Do đó, trường hợp chồng của chị chết thì nội dung di chúc liên quan đến phần di sản của chồng chị sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm chết. Trường hợp người thừa kế của chồng chị có yêu cầu chia di sản thừa kế thì di sản của chồng chị phải được xác định, bao gồm: tài sản riêng của chồng chị, phần tài sản của chồng chị trong khối tài sản chung với chị hoặc trong khối tài sản chung với người khác; tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi.
Lưu ý: trong trường hợp di chúc có nội dung về việc phân chia di sản của người đã chết chỉ được thực hiện sau một thời hạn nhất định thì di sản của chồng chị cũng chỉ được chia sau thời hạn đó.
(Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 624, khoản 1 Điều 643, Điều 661 Bộ Luật Dân sự; khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình)./.
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây