“Không được tự ý đặt ra các thủ tục và cấp Giấy xác nhận thành phần dân tộc dưới bất kỳ hình thức nào” Đó là ý kiến của Thủ tướng Chính phủ!

“Không được tự ý đặt ra các thủ tục và cấp Giấy xác nhận thành phần dân tộc dưới bất kỳ hình thức nào” Đó là ý kiến của Thủ tướng Chính phủ!
Do chưa biết quy định về giá trị pháp lý của Giấy khai sinh của cá nhân, nên nhiều cơ quan, đơn vị nhất là các trường học đã yêu cầu học sinh, sinh viên làm Giấy chứng nhận (xác nhận) về dân tộc đề nghị UBND cấp xã, cấp huyện xác nhận để làm căn cứ miễn giảm học phí hoặc xét chế độ, chính sách ưu tiên…
Vì vậy, chúng tôi xin trích quy định tại Điều 6 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, quy định về tính pháp lý của Giấy khai sinh và Công văn số 1446/VPCP-ĐP để quý vị nghiên cứu và thực hiện, không được yêu cầu công dân làm Giấy xác nhận dân tộc:
Điều 6 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:
Giá trị pháp lý của Giấy khai sinh
1. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.
2. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.
3. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh”.

Công văn số 1446/VPCP-ĐP ngày 20 tháng 3 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ về việc xác nhận thành phần dân tộc:
Kính gửi: Ủy ban Dân tộc
Xét đề nghị của Ủy ban Dân tộc (Tờ trình số 05/TTr-UBDT ngày 01 tháng 02 năm 2007) và ý kiến của các Bộ: Tư pháp (Công văn số 688/BTP-HCTP ngày 26 tháng 02 năm 2007), Công an (Công văn số 71/BCA (C11) ngày 11 tháng 01 năm 2007), Nội vụ (Công văn số 4423/BNV-CCVC ngày 15 tháng 12 năm 2006), Giáo dục và Đào tạo (Công văn số 201/GDDT ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân tộc) về việc thống nhất giải quyết việc xác nhận thành phần dân tộc trên phạm vi cả nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến như sau:
1. Việc xác định thành phần dân tộc của một người căn cứ vào Giấy khai sinh hợp pháp của người đó để xác định. Trường hợp không có Giấy khai sinh thì căn cứ vào một trong hai loại giấy tờ: Sổ Hộ khẩu, Chứng minh thư nhân dân của người đó để xác định.
2. Từ nay, các cơ quan hành chính trong phạm vi cả nước không được tự ý đặt ra các thủ tục và cấp Giấy xác nhận thành phần dân tộc dưới bất kỳ hình thức nào khác.
Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Ủy ban Dân tộc, các Bộ, ngành và Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương biết, thực hiện./.”

 
Các bài viết liên quan
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây