Hụi, họ, biêu, phường - Vấn đề quan tâm!

Ngày 19/2/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2019/NĐ-CP về hụi, họ, biêu, phường (thay thế Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006)  và có hiệu lực từ ngày 05 tháng 4 năm 2019. Sau đây chúng tôi đăng toàn văn Đề cương giới thiệu Nghị định số 19/2019/NĐ-CP để quý vị tham khảo:

ĐỀ CƯƠNG
GIỚI THIỆU NGHỊ ĐỊNH SỐ 19/2019/NĐ-CP NGÀY 19/2/2019 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ HỤI, HỌ, BIÊU, PHƯỜNG

Ngày 19/2/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/2019/NĐ-CP về hụi, họ, biêu, phường[1] (sau đây gọi là Nghị định), Nghị định có hiệu lực từ ngày 05 tháng 4 năm 2019. Sau đây là một số nội dung cơ bản của Nghị định.
A. SỰ CẦN THIẾT, MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG VÀ BỐ CỤC CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 19/2019/NĐ-CP
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH SỐ 19/2019/NĐ-CP
Trước thời điểm Nghị định số 19/2019/NĐ-CP được ban hành, quan hệ hụi, họ, biêu phường (sau đây gọi chung là họ) được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005, Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi là Nghị định số 144/2006/NĐ-CP) và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Nghị định số 144/2006/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở quy định tại Điều 479 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 với các quy định ghi nhận tập quán tốt đẹp, tương thân tương ái trong đời sống nhân dân. Trải qua hơn 12 năm thi hành, Nghị định đã góp phần xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm thực hiện quyền dân sự của người dân trong xác lập, thực hiện các quan hệ về vay tài sản nói chung và về họ nói riêng. Ngoài quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, BLDS năm 2015, quan hệ về họ còn được điều chỉnh gián tiếp bởi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại Điều 174 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 175 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Điều 201 về tội cho vay lãi nặng; các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, như: Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình[2]…  Trong công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao tuy không ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về họ nhưng đã có Công văn số 40/KHXX ngày 06/04/2007 về hướng dẫn thụ lý giải quyết tranh chấp về họ, hụi, biêu, phường. Về cơ bản, các văn bản pháp luật điều chỉnh về họ đã đáp ứng được yêu cầu về cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ liên quan; góp phần tạo hành lang pháp lý an toàn hơn cho người dân trong các giao dịch về họ; tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa, tập quán tốt đẹp về sự tương thân, tương trợ lẫn nhau trong huy động vốn, phục vụ sản xuất và đời sống của người dân; góp phần hạn chế tình trạng cho vay lãi nặng và đẩy lùi các tệ nạn xã hội khác liên quan.
Tuy nhiên, trong bối cảnh BLDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 với nhiều quy định mới về địa vị pháp lý của chủ thể; về việc xác lập, thực hiện, bảo vệ các quyền dân sự; về các giao dịch dân sự; về đại diện; về nghĩa vụ và hợp đồng; về lãi suất trong hợp đồng vay, trong đó chế định hợp đồng vay tài sản đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản đã đặt ra yêu cầu xây dựng văn bản mới thay thế Nghị định số 144/2006/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, nhu cầu cho vay, đi vay bằng phương thức họ ngày càng đa dạng, phức tạp. Một số nơi, việc chơi họ phát triển với quy mô lớn, có tính chất phức tạp và bị biến tướng thành lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cho vay lãi nặng, huy động vốn trái pháp luật[3]; việc điều chỉnh các quan hệ này không còn đơn thuần là quy định pháp luật dân sự nữa mà đòi hỏi phải áp dụng các quy định pháp luật về quản lý trật tự xã hội, xử lý vi phạm hành chính, hình sự để giải quyết. Nhiều trường hợp chủ họ tổ chức cùng lúc nhiều dây họ, đông thành viên, giá trị lớn, không quản lý được các dây họ dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc không chịu chi trả cho thành viên dẫn đến một số các vụ việc vỡ họ gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, tổ chức.
Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như: (1) công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về họ (cũng như pháp luật hình sự, hành chính liên quan) còn chưa hiệu quả; (2) nội dung Nghị định số 144/2006/NĐ-CP đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định, như quy định về người tham gia họ, hình thức thỏa thuận họ, sổ họ, cơ chế tự kiểm soát của những người tham gia họ, lãi suất họ… dẫn đến các cơ quan có thẩm quyền khó khăn trong công tác thi hành pháp luật; (3) công tác quản lý, nắm bắt tình hình xã hội tại các địa phương còn bất cập; (4) hiểu biết, ý thức tự bảo vệ quyền lợi của chính những người tham gia quan hệ họ còn hạn chế; (5) các mô hình tài chính vi mô chưa phát triển, chưa tiếp cận một cách rộng rãi đến người dân.
Do đó, việc xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 144/2006/NĐ-CP là cần thiết nhằm thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ trong việc ban hành các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành BLDS năm 2015[4], hoàn thiện quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ về họ và khắc phục phức tạp của thực tiễn quan hệ về họ trong đời sống xã hội. Trên cơ sở nhiệm vụ được chính phủ giao, Bộ Tư pháp đã tiến hành triển khai xây dựng dự thảo Nghị định về hụi, họ, biêu, phường (thay thế Nghị định số 144/2006/NĐ-CP)[5]. Ngày 19/2/2019, Nghị định đã chính thức được Chính phủ ban hành và có hiệu lực từ ngày 05/4/2019.
II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH
1. Mục đích
Việc xây dựng Nghị định hướng đến các mục đích sau đây:
- Khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP;
- Cụ thể hóa những quy định mới của BLDS năm 2015 về chủ thể, giao dịch vay tài sản nói chung và quy định về họ tại Điều 471 nói riêng nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật;
- Tạo khung pháp lý chặt chẽ, đúng nguyên tắc của pháp luật dân sự nhằm phát huy tính tích cực của họ trong việc thể hiện tính nhân văn, phù hợp với phong tục tập quán tốt đẹp; đồng thời ngăn ngừa tiêu cực, lợi dụng đã phát sinh trong thời gian qua.
2. Quan điểm chỉ đạo
Nghị định được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:
- Xây dựng các quy định mang tính định hướng hành vi của các chủ thể, đồng thời tôn trọng sự tự do cam kết thỏa thuận, nâng cao ý thức tự bảo vệ quyền, kiểm soát giữa các người tham gia quan hệ họ;
- Xây dựng các quy định của Nghị định trên cơ sở cụ thể hóa các chính sách và phương án trong đề nghị xây dựng Nghị định đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 131/NQ-CP ngày 06/12/2017, đồng thời kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP.
III. BỐ CỤC
Nghị định gồm 28 điều, được chia thành 5 chương, cụ thể:
Chương I. Quy định chung (14 điều, từ Điều 1 đến Điều 14).
Chương II. Quyền và nghĩa vụ của thành viên, chủ họ (4 điều, từ Điều 15 đến Điều 18).
Chương III. Thứ tự lĩnh họ và lãi suất (4 điều, từ Điều 19 đến Điều 22).
Chương IV. Trách nhiệm pháp lý của chủ họ và các thành viên (3 điều, từ Điều 23 đến Điều 25).
Chương V. Điều khoản thi hành (3 điều, từ Điều 26 đến Điều 28).
So với Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ít hơn 4 điều khoản và cơ cấu cũng có sự thay đổi khi tập trung các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của thành viên, chủ họ trong các loại họ không có lãi, họ có lãi, họ hưởng hoa hồng thành một chương (Chương II) đảm bảo để các quy định không bị trùng lặp. Nghị định có một số điều khoản mới như quy định về gia nhập, rút khỏi, chấm dứt dây họ; quy định về lãi suất; quy định về trách nhiệm thông báo về dây họ cho UBND cấp xã và xử lý thông tin về dây họ của…
 B. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH
Nghị định được xây dựng dựa trên các chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Mục 8 Nghị quyết số 131/NQ-CP và các chính sách này được thể hiện xuyên suốt trong các nội dung của Nghị định, theo đó, Nghị định thiết lập cơ chế để quan hệ về họ thực sự là nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân; định hướng hành vi để các bên tham gia họ tự kiểm soát lẫn nhau, tăng cường ý thức tự bảo vệ quyền dân sự; bảo đảm quyền lợi ích chính đáng của các bên tham gia họ. Bên cạnh đó, Nghị định còn có những quy định có tính can thiệp ở mức độ nhất định của Nhà nước như quy định về điều kiện làm chủ họ, điều kiện làm thành viên, hình thức thỏa thuận về họ, việc thông báo về dây họ cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã để đảm bảo quan hệ về họ được lành mạnh, tránh sự lạm dụng, biến tướng. Đồng thời, Nghị định cũng có các quy định về lãi suất trong giao dịch về họ để đảm bảo tính tương thích với quy định của BLDS năm 2015, cũng như đảm bảo phù hợp với đặc thù của giao dịch này.
Nghị định để điều chỉnh tập quán phổ biến trong đời sống xã hội ở Việt Nam là tập quán nhiều người vay một người và một người vay nhiều người diễn qua các kỳ họ nhằm hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, tạo lập cho từng thành viên có một nguồn vốn để sản xuất, phục vụ các nhu cầu cuộc sống và trả dần cho nhau qua kỳ họ. Bởi vậy, ngoài các quy định ghi nhận những quan hệ mang tính đặc thù của tập quán này, Nghị định có các quy định đảm bảo an toàn, lành mạnh cho các bên trong quan hệ.
1. Chương I - Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 13)
Chương I của Nghị định quy định các vấn đề chung gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, nguyên tắc tổ chức họ, các khái niệm cơ bản, các loại họ[6]; điều kiện tham gia họ của chủ họ và thành viên; hình thức và nội dung thỏa thuận về họ; việc gia nhập, rút khỏi, chấm dứt dây họ; sổ họ, giấy biên nhận; thông báo về việc tổ chức dây họ. So với các chương khác của Nghị định, Chương I có điều khoản nhiều hơn cả, quy định nhiều nội dung quan trọng, xuyên suốt trong điều chỉnh quan hệ về họ.
Về phạm vi điều chỉnh, với tính chất là Nghị định ban hành các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành BLDS năm 2015, Điều 1 của Nghị định đã khẳng định phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là “quy định về nguyên tắc tổ chức họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi tắt là họ); điều kiện làm thành viên, chủ họ; gia nhập, rút khỏi họ; văn bản thỏa thuận về họ; thứ tự lĩnh họ, lãi suất; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của thành viên, chủ họ”. Như vậy, Nghị định sẽ điều chỉnh quan hệ về họ ở góc độ là quan hệ dân sự, không quy định về các chế tài đối với các hành vi biến tướng trong quan hệ về họ như chế tài hành chính, hình sự, việc xử lý đối với các hành vi này thuộc quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính[7], hình sự[8], theo đó, các điều khoản có liên quan của Nghị định cụ thể quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ họ, thành viên; trách nhiệm dân sự đối với việc vi phạm nghĩa vụ của chủ họ, thành viên và quy định mang tính nguyên tắc chung đối với việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự, hành chính.
Về nguyên tắc tổ chức họ, Nghị định quy định các nguyên tắc[9] sau:
Thứ nhất, việc tổ chức họ phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS (khoản 1 Điều 3). Nguyên tắc này được quy định dựa trên bản chất quan hệ về họ là xuất phát từ quan hệ pháp luật dân sự, theo đó, việc tổ chức họ là nhiều giao dịch vay tài sản được xác lập, thực hiện trong khoảng thời gian nhất định; bởi vậy, trước hết quan hệ về họ phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015[10].
Thứ hai, việc tổ chức họ chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa những người tham gia quan hệ về họ (khoản 2 Điều 3), quy định này đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 471 BLDS năm 2015[11]; mặt khác, thể hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước không thừa nhận việc tổ chức họ nhằm mục đích kinh doanh hay tổ chức họ có tính chất chuyên nghiệp, tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ ba, không được tổ chức họ để cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác (khoản 3 Điều 3); quy định này là tiền đề quan trọng để hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung các hành vi sẽ bị xử phạt như huy động vốn trái pháp luật, không thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ về họ; đồng thời, việc lợi dụng quan hệ về họ làm phát sinh các biến tướng cũng sẽ chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật hình sự
Về các khái niệm, tại Điều 4 Nghị định, khái niệm dây họ đã được bổ sung, đây là khái niệm quan trọng trong quan hệ về họ; một số khái niệm như họ có lãi, họ không có lãi, họ hưởng hoa hồng cũng đã được hoàn thiện hơn so với Nghị định 144/2006/NĐ-CP[12]. Về kỹ thuật, các khái niệm như chủ họ, thành viên và một số khái niệm khác được tập trung quy định tại Điều 4 về giải thích từ ngữ thay vì được quy định rải rác trong các điều khoản như trước đây. 
Về thành viên và chủ họ, Nghị định quy định chung về điều kiện làm thành viên của dây họ “là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Bộ luật dân sự”, “người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi nếu có tài sản riêng có thể là thành viên của dây họ, trường hợp sử dụng tài sản riêng là bất động sản, động sản phải đăng ký để tham gia dây họ thì phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý” (khoản 1 Điều 5), ngoài ra, thành viên còn phải đáp ứng “điều kiện khác theo thỏa thuận của những người tham gia dây họ” (khoản 2 Điều 5). Quy định về điều kiện của thành viên tham gia dây họ nhằm nhằm bảo vệ quyền lợi cho người chưa thành niên, người có hạn chế về thể chất, tinh thần trong quan hệ pháp luật; bên cạnh đó, quy định trường hợp 15-18 tuổi chơi họ liên quan đến bất động sản thì phải có người đại diện đồng ý nhằm đảm bảo tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015.
Về chủ họ, Nghị định kế thừa quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về điều kiện năng lực của cá nhân làm chủ họ, đồng thời bổ sung quy định đối với dây họ do nhiều người cùng tổ chức thì “chủ họ là người được hơn một nửa tổng số thành viên bầu, trừ trường hợp các thành viên có thỏa thuận khác” (khoản 2 Điều 6) nhằm bao quát hơn các dạng dây họ được tổ chức trên thực tế.
Về hình thức và nội dung thoả thuận về dây họ, Nghị định kế thừa quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về hình thức thỏa thuận về dây họ, theo đó “thoả thuận về dây họ được thể hiện bằng văn bản. Văn bản thoả thuận về dây họ được công chứng, chứng thực nếu những người tham gia dây họ yêu cầu” và bổ sung quy định trường hợp thỏa thuận về dây họ được sửa đổi, bổ sung thì văn bản sửa đổi, bổ sung phải tuân thủ hình thức ban đầu để cụ thể hóa quy định tại Điều 421 BLDS năm 2015 (Điều 7). Điều 8 của Nghị định quy định cụ thể về các nội dung cần phải có của văn bản thỏa thuận về dây họ; hướng dẫn cho các bên tham gia quan hệ về họ thỏa thuận các nội dung cụ thể, chi tiết, chặt chẽ để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Về gia nhập dây họ, rút khỏi dây họ và chấm dứt dây họ, Nghị định có các điều khoản mới (Điều 9 đến Điều 11) so với Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về gia nhập dây họ, rút khỏi dây họ và chấm dứt dây họ, đây là các nội dung quan trọng tạo hành lang pháp lý điều chỉnh những trường hợp có sự thay đổi về thành viên trong dây họ và trường hợp dừng chơi họ, đảm bảo bao quát được các vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức họ.
Về việc rút khỏi dây họ, đây là tình huống diễn ra khi có thành viên không muốn hoặc không thể tiếp tục tham gia dây họ. Để điều chỉnh vấn đề này, Nghị định phân tách trường hợp thành viên đã lĩnh họ rút khỏi dây họ và trường hợp thành viên đã góp họ mà chưa lĩnh họ và quy định cụ thể như sau:
- Đối với thành viên đã lĩnh họ, Nghị định quy định họ có thể rút khỏi dây họ nhưng phải góp các phần họ chưa góp và giao cho chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ trong trường hợp không có chủ họ (khoản 1 Điều 10), theo đó, chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ sẽ có trách nhiệm tiếp tục đóng các phần họ cho thành viên đã rút khỏi dây họ tại mỗi kỳ mở họ;
- Đối với thành viên đã góp họ nhưng chưa được lĩnh họ thì những người tham gia có thể thỏa thuận để thành viên đó nhận lại các phần họ của mình, trường hợp không có thỏa thuận thì thành viên rút khỏi dây họ cần đợi đến khi kết thúc dây họ để được nhận lại các phần họ đã góp[13]; nếu có lý do chính đáng[14] thì được nhận lại phần họ đã góp tại thời điểm rút khỏi dây họ; thành viên rút khỏi dây họ phải hoàn trả một phần tiền lãi đã nhận (nếu có) và thực hiện nghĩa vụ khác theo thỏa thuận; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định tại Bộ luật dân sự (khoản 2 Điều 10).
Trường hợp người tham gia dây họ chết thì quyền, nghĩa vụ của người đó đã được xác lập trong quan hệ về họ được giải quyết theo quy định pháp luật về thừa kế. Việc tham gia dây họ của người thừa kế được thực hiện theo thỏa thuận của người thừa kế và những người tham gia họ.
Về sổ họ, giấy biên nhận: Điều 12 Nghị định quy định về sổ họ trên cơ sở kế thừa quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, đồng thời hoàn thiện các quy định mang tính hướng dẫn để các bên đưa vào các nội dung tại sổ họ đảm bảo ghi nhận đúng các giao dịch đã diễn ra trong quan hệ về họ; việc lập và giữ sổ họ do các thành viên thỏa thuận trường hợp không có thỏa thuận thì chủ họ lập và giữ - quy định này nhằm đảm bảo tính chất pháp luật dân sự là tôn trọng tối đa sự thỏa thuận các bên, đồng thời bổ sung một số quy định để đảm bảo tính chặt chẽ, rõ ràng trong quan hệ giữa các bên, làm căn cứ để giải quyết tranh chấp… Đặc biệt, Nghị định bổ sung quy định mới về giấy biên nhận tại Điều 13 nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, tự bảo vệ của các bên trong quan hệ về họ[15], theo đó “khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận về việc đó”.
Về thông báo về việc tổ chức dây họ, Điều 14, khoản 6 Điều 18 Nghị định quy định về nghĩa vụ của chủ họ trong việc thông báo về việc tổ chức dây họ cho UBND cấp xã nơi chủ họ cư trú[16] về việc tổ chức dây họ khi thuộc một trong các trường hợp: tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên; tổ chức từ hai dây họ trở lên. Nội dung văn bản thông báo được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Nghị định. Cùng với đó, Nghị định quy định quyền thông báo của thành viên trong trường hợp chủ họ không thực hiện nghĩa vụ trên (điểm i khoản 1 Điều 15) và trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc tiếp nhận, thống kê thông tin về họ và kịp thời phản ánh dấu hiệu vi phạm pháp luật về họ với cơ quan công an có thẩm quyền (khoản 4 Điều 28). Quy định này nhằm góp phần khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP về việc chính quyền các cấp chưa nắm bắt tình hình, diễn biến và giám sát quan hệ về họ; giúp chính quyền theo dõi tình hình, có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế được tình trạng vỡ họ gây mất trật tự ở địa phương.
2. Chương II - Quyền và nghĩa vụ của thành viên, chủ họ (Điều 15 đến Điều 18)
Chương II Nghị định đã quy định các nội dung về quyền và nghĩa vụ của chủ họ, thành viên theo hướng tập trung thành một chương, sắp xếp vị trí điều khoản theo cách quyền trước, nghĩa vụ sau để đảm bảo phù hợp với yêu cầu kỹ thuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Về nội dung, ngoài việc kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, Nghị định đã bổ sung nhiều quy định mới nhằm đảm bảo sự minh bạch, rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và tăng cường trách nhiệm, sự ràng buộc, tự giám sát lẫn nhau của các bên; tập trung vào quy định về nghĩa vụ của chủ họ trong việc làm đầu mối quản lý dây họ, chịu trách nhiệm đóng góp phần họ trong trường hợp có thành viên chưa hoặc không góp phần họ. Về kỹ thuật, các điều khoản về quyền, nghĩa vụ của thành viên (Điều 15, 16), quyền của chủ họ (Điều 17) được tách thành 3 khoản tương ứng với các loại họ gồm họ có lãi, họ không có lãi và họ hưởng hoa hồng; riêng điều khoản về nghĩa vụ của chủ họ (Điều 18) được quy định chung cho các loại họ.
Về quyền của thành viên, khoản 1 Điều 15 của Nghị định quy định thành viên trong họ không có lãi có các quyền như góp một hoặc nhiều phần họ trong một kỳ mở họ; lĩnh họ; chuyển giao một phần hoặc toàn bộ phần họ cho người khác theo quy định tại BLDS; yêu cầu chủ họ trả phần họ của thành viên không góp phần họ đúng hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; yêu cầu chủ họ thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ họ và các quyền khác có liên quan. Đặc biệt, Nghị định quy định thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người giữ sổ họ cho xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ nhằm tạo điều kiện cho thành viên lưu giữ các chứng cứ, tài liệu trong quá trình diễn ra dây họ. Thành viên trong họ có lãi ngoài các quyền như của thành viên trong dây họ không có lãi còn có quyền đưa ra mức lãi trong mỗi kỳ mở họ; được lĩnh họ trước các thành viên khác nếu đưa ra mức lãi cao nhất tại kỳ mở họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; hưởng lãi từ thành viên lĩnh họ (khoản 2 Điều 15). Đối với thành viên trong họ hưởng hoa hồng, ngoài các quyền tương ứng với quyền của thành viên trong họ có lãi hoặc họ không lãi còn có quyền thỏa thuận về mức hưởng hoa hồng của chủ họ (khoản 3 Điều 15).
Về nghĩa vụ của thành viên, Điều 16 quy định thành viên trong họ không có lãi có nghĩa vụ góp phần họ theo thoả thuận; thông báo về nơi cư trú mới trong trường hợp có thay đổi cho những người tham gia dây họ[17]; tiếp tục góp các phần họ để các thành viên khác được lĩnh cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh họ trong trường hợp đã lĩnh họ trước thành viên khác và các nghĩa vụ khác có liên quan. Thành viên trong họ có lãi ngoài các nghĩa vụ như của thành viên trong dây họ không có lãi còn có nghĩa vụ trả lãi cho các thành viên chưa lĩnh họ khi được lĩnh họ. Đối với thành viên trong họ hưởng hoa hồng, ngoài các nghĩa vụ tương ứng với quyền của thành viên trong họ có lãi hoặc họ không lãi còn có nghĩa vụ trả khoản hoa hồng cho chủ họ khi lĩnh họ theo thỏa thuận.
Về quyền của chủ họ, Điều 17 quy định chủ họ trong họ không có lãi có quyền thu phần họ của các thành viên; yêu cầu thành viên không góp phần họ của mình phải trả phần họ trong trường hợp chủ họ đã góp thay cho thành viên đó và các quyền khác có liên quan. Trong họ có lãi, chủ họ có các quyền như của chủ họ trong dây họ không có lãi và quyền lĩnh các phần họ trong kỳ mở họ đầu tiên và không phải trả lãi cho các thành viên khác trong trường hợp chủ họ đồng thời là thành viên, trừ trường hợp có thỏa thuận khác[18]. Đối với chủ họ trong họ hưởng hoa hồng, ngoài các quyền tương ứng với quyền của chủ họ trong họ có lãi hoặc họ không lãi còn có quyền được hưởng hoa hồng từ thành viên lĩnh họ.
Về nghĩa vụ của chủ họ, Điều 18 Nghị định quy định các nghĩa vụ mang tính đặc trưng của tập quán về họ và kế thừa quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP như nghĩa vụ lập và giữ sổ họ và các giấy tờ liên quan đến họ; thu phần họ của các thành viên; giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ; nộp thay phần họ của thành viên trong trường hợp có thoả thuận nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ; để các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu;… Nghị định còn bổ sung một số quy định quan trọng về nghĩa vụ của chủ họ như thông báo cho các thành viên về nơi cư trú mới trong trường hợp có sự thay đổi[19]; thông báo đầy đủ về số lượng dây họ, phần họ, kỳ mở họ, số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ[20]; gửi thông báo về dây họ trong trường hợp dây họ thuộc diện phải thông báo cho chính quyền cơ sở[21].
3. Chương III - Thứ tự lĩnh họ và lãi suất (Điều 19 đến Điều 22)
Mục 1 Chương III của Nghị định quy định về xác định thứ tự lĩnh họ về cơ bản được kế thừa từ các quy định của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, bổ sung thêm thứ tự lĩnh họ có thể được xác định bằng hình thức biểu quyết, bình chọn để tạo thêm nhiều sự lựa chọn cho những người tham gia. Điều 19 Nghị định quy định thứ tự lĩnh họ trong trường hợp họ không có lãi, theo đó, trường hợp những người tham gia dây họ không có thỏa thuận thì thứ tự lĩnh họ được xác định bằng hình thức bốc thăm; ngoài ra, các bên có thể xác định thứ tự lĩnh họ theo hình thức biểu quyết, bình chọn hoặc hình thức khác. Điều 20 Nghị định quy định về thứ tự lĩnh họ trong họ có lãi, theo đó, thành viên lĩnh họ trong từng kỳ mở họ là người đưa ra mức lãi cao nhất, trừ trường hợp có thoả thuận khác; trường hợp trong một kỳ mở họ mà có nhiều thành viên cùng trả một mức lãi và mức lãi đó là mức lãi cao nhất thì những người này bốc thăm để xác định thành viên lĩnh họ. Thành viên đã lĩnh họ không được đưa ra mức lãi trong các kỳ mở họ tiếp theo, tuy nhiên, trường hợp một thành viên góp nhiều phần họ trong mỗi kỳ mở họ thì thành viên này có quyền đưa ra mức lãi cho đến khi có số lần lĩnh họ tương ứng với số phần họ mà thành viên đó góp họ trong một kỳ mở họ.
Mục 2 Chương III của Nghị định (Điều 21 và Điều 22) quy định về giới hạn lãi suất trong họ có lãi; xác định người phải chịu trách nhiệm trả lãi, mức lãi phải gánh chịu trong trường hợp không góp, giao hoặc góp, giao phần họ không đầy đủ nhằm đảm bảo thực hiện đúng các quy định tại Điều 357, Điều 466, Điều 468 và khoản 3 Điều 471 của BLDS năm 2015. Cụ thể:
- Về giới hạn lãi suất trong họ có lãi, Điều 21 Nghị định quy định “lãi suất trong họ có lãi do các thành viên của dây họ thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ nhưng không vượt quá 20%/năm của tổng giá trị các phần họ phải góp trừ đi giá trị các phần họ đã góp trên thời gian còn lại của dây họ”, “trường hợp lãi suất theo thỏa thuận hoặc do từng thành viên đưa ra để được lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ vượt quá lãi suất giới hạn thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.  Quy định này cụ thể hóa quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015, xác định chuẩn mực trong quan hệ họ, hạn chế việc chơi họ để cho vay nặng lãi; trong trường hợp thỏa thuận của các bên vi phạm lãi suất giới hạn thì đây không phải là căn cứ để tuyên bố quan hệ họ vô hiệu mà chỉ là căn cứ để xác định vô hiệu đối với mức lãi suất vượt quá 20%/năm.
Quy định về cách tính lãi suất tại Điều 21 của Nghị định thể hiện đúng đặc thù của quan hệ về họ, giải quyết được lúng túng trong thực tiễn xét xử tranh chấp về họ của ngành Tòa án nhân dân trong việc xác định lãi suất lĩnh họ là vượt quá hay tuân thủ pháp luật. Thực tế áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP cho thấy cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn trong việc xác định xác định thời điểm để tính lãi, khoảng thời gian tính lãi và số tiền phải chịu lãi. Quy định tại Điều 21 tiếp cận theo cách mỗi thành viên từ thời điểm bắt đầu dây họ đến thời điểm được lĩnh họ là người cho vay, tại thời điểm lĩnh họ đến khi kết thúc dây họ là người đi vay, như vậy, số tiền vay bằng tổng số phần họ phải góp của mỗi thành viên đó trừ đi số phần đã góp, thời gian vay được tính từ thời điểm thành viên đó lĩnh họ đến khi kết thúc dây họ; giới hạn lãi suất được tính trên cơ sở xác định được số tiền vay, thời gian vay ở trên.
- Về lãi suất trong trường hợp chậm góp, chậm giao phần họ, Điều 22 Nghị định quy định “trường hợp đến kỳ mở họ mà chủ họ không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ, thành viên chưa lĩnh họ không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả” và quy định giới hạn lãi suất tương ứng với tình huống cụ thể.
4. Chương IV - Trách nhiệm pháp lý của chủ họ và các thành viên (Điều 23 đến Điều 25)
Chương IV Nghị định quy định về trách nhiệm dân sự của những người tham gia họ theo hướng quy định rõ về trách nhiệm pháp lý khi người tham gia họ vi phạm thỏa thuận.
Về trách nhiệm của chủ họ do không giao hoặc giao không đầy đủ các phần họ cho thành viên được lĩnh họ, Điều 23 của Nghị định quy định chủ họ ngoài việc phải thực hiện đúng nghĩa vụ còn phải trả lãi đối với số tiền chậm giao cho thành viên được lĩnh họ, chịu phạt vi phạm trong trường hợp những người tham gia dây họ có thỏa thuận phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại (nếu có).
Về trách nhiệm của thành viên không góp phần họ, Điều 24 của Nghị định quy định trường hợp đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ hoặc góp phần họ không đầy đủ thì thành viên đó có trách nhiệm hoàn trả số tiền mà chủ họ đã góp thay cho thành viên, trả lãi đối với số tiền chậm góp họ, chịu phạt vi phạm trong trường hợp những người tham gia dây họ có thỏa thuận phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại (nếu có).
Ngoài ra, khoản 1 Điều 25 của Nghị định quy định chung về các phương thức giải quyết tranh chấp để các bên lựa chọn khi có tranh chấp phát sinh, theo đó, “trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ thì tranh chấp đó được giải quyết bằng thương lượng, hoà giải hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 25 Nghị định quy định chủ họ, thành viên, cá nhân, tổ chức liên quan có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác khi tham gia quan hệ về họ. Việc ghi nhận các loại trách nhiệm pháp lý có ý nghĩa giúp những cá nhân tham gia quan hệ về họ lựa chọn ứng xử phù hợp, răn đe hành vi vi phạm pháp luật.
5. Chương V - Điều khoản thi hành (Điều 26 đến Điều 28)
Chương V Nghị định về điều khoản thi hành, theo đó, điều khoản chuyển tiếp của Nghị định là điều khoản mới được bổ sung nhằm hướng dẫn việc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ phát sinh trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực.
Nghị định dành một điều khoản quy định về trách nhiệm thi hành của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, UBND các cấp và trách nhiệm chung của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp và cá nhân, tổ chức có liên quan.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có trách nhiệm tổng hợp tình hình, diễn biến quan hệ về họ ở địa phương khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tuyên truyền, phổ biến Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, thống kê thông tin về họ mà chủ họ cư trú tại địa phương đối với các dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên hoặc chủ họ tổ chức từ hai dây họ trở lên. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kịp thời phản ánh dấu hiệu vi phạm pháp luật về họ với cơ quan công an có thẩm quyền. Trong  các trường hợp nêu trên, trên cơ sở thông báo bằng văn bản của chủ họ[22] các thông tin về dây họ, UBND cấp xã thống kê các nội dung sau: (1) Họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của chủ họ; (2) Thời gian bắt đầu và kết thúc dây họ; (3) Tổng giá trị các phần họ tại kỳ mở họ; (4) Tổng số thành viên. Trường hợp chủ họ hoặc các thành viên thông báo về sự thay đổi thông tin về dây họ thì UBND cấp xã sửa đổi thông tin theo thông báo đó.
-----------------------------------------

 
 
[1] thay thế Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường
[2] Nghị định này quy định xử phạt đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay
[3] Trên thực tế, tồn tại nhiều mối quan hệ được gọi là chơi họ, tham gia họ nhưng bản chất không phải là quan hệ về họ như tập quán của nhân dân, chẳng hạn một cá nhân tự làm chủ họ huy động nhiều người góp họ nhưng những người này không biết dây họ đó có tồn tại thực hay không, có bao nhiêu thành viên tham gia mà chủ họ quyết định toàn bộ về phần họ phải đóng, lãi suất, kỳ lĩnh họ của người tham gia; hoặc cá nhân làm chủ họ cho cá nhân khác vay với lãi suất cao và thu tiền hàng ngày, hàng tuần như hình thức góp họ, nhưng thực tế không tồn tại dây họ.
[4] Nhiệm vụ ban hành Nghị định về các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành luật của Chính phủ được ghi nhận tại khoản 2 Điều 19 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
[5] Nghị định này được xây dựng theo quy trình hai bước theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm:
Bước 1: Đề xuất xây dựng Nghị định, kết quả của bước này là đề xuất xây dựng Nghị định được thông qua với 2 chính sách được chấp thuận tại Nghị quyết số 131/NQ-CP ngày 06/12/2017 của Chính phủ: (i) Xây dựng khung pháp lý thích hợp để quản lý, giám sát họ và (ii) hoàn thiện quy định về lãi suất trong giao dịch về họ đảm bảo tính tương thích với quy định của BLDS năm 2015 đồng thời đảm bảo phù hợp với đặc thù của giao dịch này;
Bước 2: xây dựng dự thảo Nghị định với các quy định cụ thể.
[6] Theo đó họ gồm có họ có lãi và họ không có lãi, trong mỗi loại họ này còn có thể có: họ không có lãi mà chủ họ không hưởng hoa hồng, họ không có lãi và chủ họ hưởng hoa hồng; họ có lãi mà chủ họ không hưởng hoa hồng, họ có lãi và chủ họ hưởng hoa hồng
[7] Chẳng hạn Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội
[8] Chẳng hạn các tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cho vay lãi nặng được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung  năm 2017).
[9] Trước đây, Nghị định số 144/2006/NĐ-CP quy định chính sách của Nhà nước về họ tại Điều 2, tuy nhiên, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP không quy định về chính sách của Nhà nước nữa mà quy định nguyên tắc tổ chức họ.
[10]Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”.
[11]2. Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật
[12] Nghị định số 19/2019/NĐ-CP không còn quy định về khái niệm họ đầu thảo nữa bởi về bản chất họ đầu thảo là một dạng của họ có lãi, trong đó chủ họ sẽ là người được nhận phần họ trong kỳ mở họ đầu tiên. Nội dung này đã được ghi nhận tại điểm b khoản 2 Điều 17 của Nghị định, theo đó chủ họ trong họ có lãi có quyền “Lĩnh các phần họ trong kỳ mở họ đầu tiên và không phải trả lãi cho các thành viên khác trong trường hợp chủ họ đồng thời là thành viên, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, trường hợp họ không phải là họ đầu thảo thì các bên thực hiện theo “thỏa thuận khác” và được pháp luật tôn trọng.
 
[13] Về nguyên tắc, khi các bên tham gia dây họ phải tôn trọng cam kết, thỏa thuận của mình; bởi vậy, việc rút khỏi dây họ ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người khác; làm chủ họ và các thành viên phải tính toán lại phần họ, số kỳ họ,… Trong trường hợp này, để tránh ảnh hưởng đến sự ổn định của dây họ, Nghị định quy định bên rút khỏi dây họ cần phải đợi đến khi kết thúc dây họ để tạo điều kiện cho chủ họ hoặc thành viên giữ sổ họ tính toán lại phần họ, thu đủ lại phần họ mà thành viên đó đã đóng góp để trả cho họ.
[14] Ví dụ không còn tài sản, điều kiện để tham gia họ; tình trạng sức khỏe của cá nhân, người thân trong gia đình;..
[15] Việc thu thập giấy biên nhận trong quá trình diễn ra dây họ sẽ giúp các bên thiết lập các căn cứ, tài liệu chứng thực cho các giao dịch đã diễn ra, bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong trường hợp xảy ra tranh chấp
[16] Được xác định là nơi chủ họ thường xuyên sinh sống, trường hợp không xác định được nơi thường xuyên sinh sống thì xác định theo nơi đang sinh sống.
[17] Quy định này được ghi nhận nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 về trách nhiệm thông báo về việc thay đổi nơi cư trú của các bên trong quan hệ dân sự
[18] Đây là quy định thể hiện tính đặc thù của họ đầu thảo; đối với họ không phải là họ đầu thảo thì chủ họ không có quyền này và thuộc trường hợp “có thỏa thuận khác”.
[19] Quy định này được ghi nhận nhằm cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 40 BLDS năm 2015 về trách nhiệm thông báo về việc thay đổi nơi cư trú của các bên trong quan hệ dân sự.
[20] Quy định này được bổ sung nhằm tạo cơ chế công khai minh bạch của dây họ, theo đó chủ họ phải thông tin đầy đủ cho người muốn chơi họ về tổng số thành viên, số dây họ mà mình đang làm chủ, quy mô dây họ,… để từ các thông tin đó, người muốn chơi họ có thể có lựa chọn đúng đắn cho mình như quyết định có nên tham gia hay không.
[21] Dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên hoặc chủ họ tổ chức từ hai dây họ trở lên
[22] Trong trường hợp chủ họ không thông báo thì các thành viên dây họ có quyền thông báo cho UNND cấp xã về dây họ.
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây