Các vấn đề về bảo vệ quyền dân sự

CÁC VẤN ĐỀ VỀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ
  • Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình;
  • Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
  • Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
  • Buộc thực hiện nghĩa vụ;
  • Buộc bồi thường thiệt hại;
  • Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
  • Yêu cầu khác theo quy định của luật.
Để thực hiện các phương thức nêu trên thì cá nhân bị xâm phạm quyền dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ trước hết cần thỏa thuận với người có hành vi xâm phạm. Trường hợp không thỏa thuận được hoặc liên quan trực tiếp đến thẩm quyền của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì yêu cầu bảo vệ quyền dân sự theo phương thức hành chính hoặc tố tụng. Việc bảo vệ quyền dân sự bằng phương thức hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Việc bảo vệ quyền dân sự theo phương thức tố tụng được thực hiện theo pháp luật tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân có quyền bị xâm phạm. Sau đây là một số vấn đề đề cập đến một số nội dung liên quan đến việc bảo vệ quyền theo phương thức dân sự và tố tụng.
(Điều 11 Bộ Luật Dân sự)

Trường hợp cá nhân có quyền bị xâm phạm áp dụng việc thực hiện quyền tự bảo vệ thì thực hiện như thế nào?
Việc áp dụng quyền tự bảo vệ chỉ được thực hiện trong trường hợp Bộ Luật Dân sự, luật khác có liên quan có quy định (ví dụ: cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì có thể tự mình áp dụng biện pháp cần thiết để bác bỏ thông tin đó). Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử; tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; thiện chí, trung thực; không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; và tự chịu trách nhiệm. Cá nhân không được lạm dụng quyền tự bảo vệ của mình để gây thiệt hại cho người khác, để vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật. Trường hợp cá nhân lạm dụng quyền này thì Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi vi phạm mà có thể không bảo vệ một phần hoặc toàn bộ quyền của họ, buộc bồi thường nếu gây thiệt hại và có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định.
(Điều 3, Điều 10, Điều 11, Điều 12 Bộ Luật Dân sự)

Cá nhân có thê yêu cầu cơ quan, tô chức có thâm quyên công nhận quyền dân sự của mình hay không?
Việc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận quyền dân sự có thể được thực hiện trong trường hợp pháp luật quy định là phải có cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận hoặc trong trường hợp cá nhân đã có quyền dân sự nhưng cần được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.
Ví dụ: cá nhân có thể yêu cầu Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; người đã chuyển đổi giới tính theo quy định của luật có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận tên gọi phù hợp với giới tính mới; cá nhân có thể yêu cầu tổ chức công nhận quyền đại diện của mình đối với tổ chức; yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án; yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ...
(Khoản 7, 8 Điều 27, khoản 2, 7 Điều 29 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều 11 Bộ Luật Dân sự; khoản 3 Điều 17Luật đất đai...)

Trường hợp cá nhân, pháp nhân có hành vi xâm phạm đến quyên dân sự của cá nhân khác thì người bị xâm phạm quyên có thê yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm đó hay không?
Theo quy định của pháp luật, cá nhân bị xâm phạm quyền dân sự có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi. Trường hợp người có hành vi xâm phạm không tự mình chấm dứt hành vi xâm phạm thì cá nhân bị xâm phạm có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.
Ví dụ: Trường hợp thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì người có thông tin có thể yêu cầu cá nhân, tổ chức đã đăng tải phải gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thông tin hủy bỏ thông tin đó. Nếu tổ chức, cá nhân này không thực hiện thì yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác buộc chấm dứt hành vi vi phạm.
(Điều 11, khoản 3 Điều 34 Bộ Luật Dân sự, khoản 10 Điều 70 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, khoản 1 Điều
59 Luật báo chí năm 2016.)

Trường hợp cá nhân bị xâm phạm quyền dân sự có yêu cầu người có hành vi xâm phạm xin lỗi, cải chính công khai thì yêu cầu này có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?
Trường hợp hành vi xâm phạm quyền dân sự dẫn tới người có quyền dân sự bị ảnh hưởng về danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc dẫn tới họ không tiếp cận được, có khó khăn trong việc tiếp cận quyền dân sự của mình thì việc người có quyền dân sự bị xâm phạm có yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải xin lỗi, cải chính công khai là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Người này có thể trực tiếp yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.
Ví dụ:
  • Trong thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, việc phục hồi danh dự đối với người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bằng các hình thức sau đây: (1) Trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai tại nơi cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc tại nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại; (2) Đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.
  • Trong lĩnh vực báo chí, cá nhân có quyền dân sự bị xâm phạm có quyền yêu cầu nhà báo phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
(Điều 11, khoản 5 Điều 34 Bộ Luật Dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật TNBTNN; khoản 5 Điều 25 Luật báo chí năm 2016; điểm b khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ...)

Trường hợp cá nhân, pháp nhân có nghĩa vụ dân sự với cá nhân khác nhưng không thực hiện nghĩa vụ này thì người có quyền có thể yêu cầu buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ hay không?
Theo quy định của pháp luật, cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự; trong quan hệ hợp đồng, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết; trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định khác. Do đó, nếu cá nhân, pháp nhân có nghĩa vụ dân sự với cá nhân khác nhưng không thực hiện nghĩa vụ thì việc người có quyền có yêu cầu buộc cá nhân, pháp nhân vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ví dụ:
  • Trong hợp đồng mua bán, nếu bên bán giao tài sản không đúng chủng loại thì bên mua có quyền yêu cầu người đó giao tài sản đúng chủng loại;
  • Trong hợp đồng dịch vụ, sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng theo nội dung đã thoả thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có;
  • Trong hợp đồng gia công, bên nhận gia công vi phạm nghĩa vụ, nếu thấy việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích cho mình thì bên đặt gia công có thể yêu cầu bên nhận gia công tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng gia công.
(Khoản 5 Điều 3, Điều 301 khoản 2 Điều 401, khoản 2 Điều 439, Điều 521 khoản 1 Điều 585 Bộ Luật Dân sự; Điều 84 Luật thương mại)

Trường hợp một người trong quan hệ dân sự mà có hành vi gây thiệt hại cho người khác thì bên bi thiệt hại có thể yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường như thế nào?
Theo quy định pháp luật, khi quyền dân sự của một cá nhân bị chủ thể khác xâm phạm mà có thiệt hại, thì người bị thiệt hại trước hết có thể yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường thiệt hại cho mình, nếu người này không tự nguyện thực hiện việc bồi thường thì người bị thiệt hại có thể yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp thực hiện việc bồi thường thiệt hại thông qua cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì người có yêu cầu phải tuân thủ đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật có liên quan như pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng trọng tài, trách nhiệm bồi thường của nhà nước,..
Việc bồi thường thiệt hại thực hiện theo nguyên tắc bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về mức, phạm vi bồi thường khác hoặc luật có quy định khác.
(Điều 11, Điều 13, Điều 360, Điều 584, Điều 585 Bộ Luật Dân sự; Điều 1, Điều 2 Luật TNBTNN; Điều 302 Luật thương mại)

Trường hợp nào mặc dù có hành vi gây thiệt hại nhưng người gây thiệt hại không phải thực hiện trách nhiệm bồi thường cho người bi thiệt hại?
Người gây thiệt hại có thể được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp:
  • Việc gây thiệt hại do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc bên gây thiệt hại vẫn phải bồi thường trong trường hợp này hoặc pháp luật có quy định khác.
  • Việc gây thiệt hại là hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.
Ngoài ra, người gây thiệt hại có thể không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo thỏa thuận của các bên; bên bị thiệt hại miễn việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên gây thiệt hại; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được thay thế bằng nghĩa vụ khác; bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại hòa nhập làm một;...
Sự kiện bất khả kháng được hiểu là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
(Khoản 2 Điều 156, Điều 351, Điều 362, Điều 363, Điều 372, khoản 2 Điều 584 Bộ Luật Dân sự)

Tôi đang đi xe máy thì có một người đi bộ qua đường ở đoạn đường cấm người đi bộ và tôi đã gây tai nạn cho người đó. Trường hợp này ngoài trách nhiệm dân sự của tôi thì người đã đi bộ sai quy định có phải chịu trách nhiệm hay không?
Trường hợp bạn nêu pháp luật có quy định về việc bên bị thiệt hại có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho chính mình. Trường hợp thiệt hại xảy ra do một phần lỗi của họ thì bên gây thiệt hại chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trường hợp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại được miễn trừ trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, căn cứ vào tính chất, mức độ lỗi, hành vi của bên bị thiệt hại mà đủ yếu tố cấu thành truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự thì những trách nhiệm này có thể áp dụng cho người bị thiệt hại.
(Khoản 3 Điều 351, Điều 362, Điều 363 Bộ Luật Dân sự; khoản 3 Điều 260 Bộ Luật Hình sự năm 2015, Điều 9 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP)

Khi giải quyêt yêu cầu bảo vệ quyên dân sự mà thấy việc ban hành quyêt định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyên là trái pháp luật dẫn đên xâm phạm quyên dân sự của một cá nhân thì việc xử lý quyêt định này thực hiện như thê nào?
Theo quy định pháp luật, trong trường hợp nêu trên, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật mà xâm phạm quyền dân sự của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Việc hủy quyết định cá biệt trái pháp luật thực hiện theo quy định pháp luật về tố tụng hoặc pháp luật khác có liên quan. Ví dụ: Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó.
Quyền dân sự bị xâm phạm bởi quyết định cá biệt này được khôi phục. Ngoài ra, người có quyền dân sự bị xâm phạm có thể thực hiện các phương thức bảo vệ quyền dân sự cho mình theo quy định của Bộ Luật Dân sự (xem nội dung trả lời các câu hỏi liên quan tại tệp này).
Quyết định cá biệt trong trường hợp này được hiểu là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
(Điều 11, Điều 15 Bộ Luật Dân sự; Điều 34 Bộ Luật Tố tụng Dân sự,...)

Trường hợp có tranh chấp trong xác lập, thực hiện, bảo vệ quyền dân sự thì cá nhân có thể áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp như thế nào?
Trường hợp có tranh chấp trong xác lập, thực hiện, bảo vệ quyền dân sự thì cá nhân có thể áp dụng một trong các phương thức sau đây:
  • Tự thương lượng giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ;
  • Hòa giải thông qua hòa giải cơ sở, hòa giải thương mại hoặc tổ chức hòa giải hợp pháp khác;
  • Theo thủ tục tố tụng tại trọng tài;
  • Theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Ngoài ra, trong trường hợp pháp luật có quy định, việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền dân sự phải thực hiện theo thủ tục luật định thì việc giải quyết tranh chấp này phải thực hiện theo phương thức đó, ví dụ: phương thức giải quyết tranh chấp đất đai, lao động..
(BLDS, Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Luật trọng tài thương mại năm 2010, Luật thương mại, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật sở hữu trí tuệ, Luật đất đai, BLLĐ, Luật hòa giải ở cơ sở, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP...)

Trong bảo vệ quyền dân sự, những người nào sẽ được nhận trợ giúp pháp lý từ cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền?
Theo quy định pháp luật, những người sau đây được trợ giúp pháp lý trong bảo vệ quyền dân sự:
  • Người có công với cách mạng;
  • Người thuộc hộ nghèo;
  • Trẻ em;
  • Người thuộc dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
  • Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người cao tuổi; người khuyết tật; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; người nhiễm HIV.
(Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý)

Người được trợ giúp pháp lý có quyền, nghĩa vụ như thế nào?
Theo quy định pháp luật, người được trợ giúp pháp lý có những quyền sau
đây:
  • Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích
khác;
  • Tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý;
  • Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan;
  • Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý;
  • Lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định pháp luật;
  • Thay đổi, rút yêu cầu trợ giúp pháp lý.
  • Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
  • Khiếu nại, tố cáo về trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Để thực hiện tốt quyền của mình, bảo đảm hiệu quả của việc trợ giúp pháp lý và sự tuân thủ pháp luật, người được trợ giúp pháp lý phải cung cấp giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý; hợp tác, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu, chứng cứ đó; tôn trọng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; không yêu cầu tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khác trợ giúp pháp lý cho mình về cùng một vụ việc đang được một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý thụ lý, giải quyết; chấp hành pháp luật về trợ giúp pháp lý và nội quy nơi thực hiện trợ giúp pháp lý
(Điều 8, Điều 9 Luật trợ giúp pháp lý)

Những trường hợp nào cá nhân không thể áp dụng việc hòa giải thông qua hòa giải ở cơ sở hoặc hòa giải thương mại?
Đối với hòa giải ở cơ sở, không áp dụng phương thức hòa giải này trong các trường hợp: Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình; yêu cầu bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; những vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.
Đối với hòa giải thương mại, phương thức này chỉ được áp dụng đối với tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; có ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc hòa giải trường hợp pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại.
Ngoài ra, việc thỏa thuận hòa giải không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba.
(Điều 206 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điều 3 Luật hòa giải ở cơ sở; Điều 2, Điều 4 Nghị định s 22/2017/Nđ-CP)

Tôi và anh A có tranh chấp về một giao dịch, chúng tôi đã hòa giải thành thông qua một tổ chức hòa giải hợp pháp nhưng sau đó anh A không tự nguyện thực hiện theo kết quả hòa giải đó dẫn tới phát sinh nhiều chi phí, tranh chấp kéo dài. Để tránh rủi ro trong những trường hợp tương tự thì tôi cần phải làm gì?
Trường hợp bạn hỏi có thể tham khảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Theo đó sau khi có kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, một bên hoặc cả hai bên tham gia thỏa thuận hòa giải có thể yêu cầu tòa án côn nhận kết quả hòa giải này. Trường hợp được Tòa án công nhận, thì có hiệu lực thi hành ngay không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.
Tuy nhiên, để có thể được Tòa án áp dụng thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án thì bạn cần đảm bảo các điều kiện sau đây:
  • Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
  • Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý;
  • Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận;
  • Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.
(Điều 416 đến Điều 419 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Tòa án sẽ thụ lý giải quyết một vụ án dân sự trong trường hợp nào?
Khi cá nhân thấy quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì tự mình hoặc qua người đại diện khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ.
Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có khởi kiện hợp pháp của tổ chức, cá nhân (đương sự) cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người mà họ có tư cách đại diện bị xâm phạm và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
(Điều 5, Điều 186 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Việc thụ lý khởi kiện của Tòa án có bắt buộc phải dựa trên cơ sở quy định pháp luật hay không?
Về nguyên tắc, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự theo thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, để kịp thời công nhận, thực hiện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong trường hợp pháp luật không có quy định, một nguyên tắc được ghi nhận là Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự ngay cả khi không có điều luật áp dụng. Trường hợp này, Tòa án vẫn thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự dựa trên quy định về áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.
Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.
(Điều 5, Điều 6, khoản 2 Điều 14 Bộ Luật Dân sự; khoản 2 Điều 4, Điều 26 đến Điều 34 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Trường hợp khởi kiện thì đơn khởi kiện cần có nội dung gì?
Theo quy định pháp luật, đơn khởi kiện cần có các nội dung chính sau đây:
  • Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
  • Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
  • Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
(Điều 189 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Trường hợp việc khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc làm đơn được thực hiện như thế nào?
Theo quy định pháp luật, trường hợp việc khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác lam hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.
(Điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 189 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Trường hợp việc khởi kiện mà người khởi kiện không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì việc làm đơn được thực hiện như thế nào?
Theo quy định pháp luật, những người nêu trong câu hỏi có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.
(Điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Việc gửi đơn khởi kiện đến Tòa án thực hiện như thế nào?
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
  • Nộp trực tiếp tại Tòa án;
  • Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
  • Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.
Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.
(Điều 190 Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/ 2016 của HĐTP TANDTC hướng dân về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử)

Trong giải quyết tranh châp dân sự tại Tòa án thì việc hòa giải có được áp dụng hay không?
Trong giải quyết tranh chấp dân sự, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trong một số vụ án nhất định, do tính chất, nội dung của vụ việc và sự tham gia của đương sự mà có những trường hợp nhất định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được.
  • Không được hòa giải đối với yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
  • Không tiến hành hòa giải được đối với trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
(Điều 10, Điều 206, Điều 207 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Tôi là đương sự trong vụ án dân sự nhưng tôi không thể trực tiếp tham gia vào quan hệ tô tụng, vậy tôi có thể cử người đại diện tham gia trực tiếp được hay không?
Theo quy định pháp luật, đương sự có thể tham gia tố tụng thông qua người đại diện. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Việc xác định người đại diện căn cứ vào quy định của Bộ Luật Dân sự và pháp luật khác có liên quan.
Người đại diện theo pháp luật được xác định theo quy định của pháp luật, ví dụ cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên, người giám hộ đại diện cho người được giám hộ hoặc người do Tòa án chỉ định...
Người đại diện theo ủy quyền là cá nhân hoặc pháp nhân được đương sự ủy quyền để nhân danh họ tham gia vào tố tụng. có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ Luật Dân sự trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.
Để tránh xung đột về mặt lợi ích, bảo đảm khách quan trong quan hệ tố tụng, pháp luật quy định những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật trong tố tụng:
  • Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;
  • Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc.
(Điều 136, 137, 138 Bộ Luật Dân sự; Điều 9, Điều 85, Điều 87 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Trong giải quyết ly hôn, vợ, chồng có thể tham gia tố tụng thông qua người đại diện được không?
Theo quy định của pháp luật, trong giải quyết ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên, bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích đó là người đại diện.
Trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ Luật Dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.
(Khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 85 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Trong hủy kết hôn trái pháp luật, ai là người có quyên yêu cầu Tòa án ?
Đối với trường hợp việc kết hôn bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, thì người bị cưỡng ép, bị lừa dối có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Đối với trường hợp việc kết hôn vi phạm điều kiện về tuổi, năng lực hành vi dân sự hoặc vi phạm các hành vi bị cấm trong kết hôn thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật:
  • Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  • Hội liên hiệp phụ nữ.
Các cá nhân, cơ quan, tổ chức nêu trên cũng có thể là người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép, bị lừa dối trong trường hợp người bị cưỡng ép, bị lừa dối có đề nghị.
Ngoài ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức nêu trên thực hiện việc yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
(Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 85 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Chồng của tôi đã rời khỏi nơi cư trú 09 tháng nay. Do chồng tôi không có mặt ở nhà nên làm phát sinh nhiều khó khăn trong thực hiện các quyền nhân thân và tài sản của tôi và các con. Vậy, tôi cần phải thực hiện thủ tục nào đôi với chồng tôi trong trường hợp này?
Theo quy định của pháp luật, chị có thể áp dụng thủ tục giải quyết thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Theo đó, chị có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm chồng chị tại nơi cư trú, đồng thời có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chồng chị theo quy định của Bộ Luật Dân sự.
Kèm theo đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, chị phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh là chồng chị đã biệt tích 06 tháng liền trở lên; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chồng chị thì phải cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình hình tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những người thân thích của chồng chị.
Theo yêu cầu của chị, căn cứ vào thực tế và những tài liệu, chứng cứ chị cung cấp, Tòa án có thể giao tài sản của chồng chị cho người sau đây quản lý:
  • Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;
  • Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;
  • Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tụ c quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.
Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì nêu trên thì Tòa án chỉ định chị hoặc một người trong số những người thân thích của chồng chị quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.
Quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị chưa chấm dứt về mặt pháp luật.
(Điều 64 đến 67 Bộ Luật Dân sự; Điều 381 đến 386 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Trường hợp chồng tôi đã biệt tích hơn 02 năm, tôi có nguyện vọng ly hôn chồng tôi thì thực hiện như thế nào?
Theo quy định của pháp luật, trước hết chị cần thực hiện thủ tục giải quyết thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Theo đó, chị có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng chị mất tích. Kèm theo đơn yêu cầu, chị phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh chồng chị đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc chị đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm, nếu trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.
Sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố chồng chị mất tích, chị có thể yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình. Căn cứ vào yêu cầu của chị thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thời hạn 02 năm trong trường hợp nêu trên được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
(Điều 68 đến Điều 70 Bộ Luật Dân sự; Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 387 đến Điều 390 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Vợ chồng tôi có thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, để công nhận thỏa thuận này, vợ chồng tôi phải thực hiện thủ tục như thế nào?
Theo quy định của pháp luật, chị có thể áp dụng thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Theo đó vợ, chồng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải có đơn yêu cầu; vợ, chồng cùng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn yêu cầu (trong trường hợp này vợ, chồng cùng được xác định là người yêu cầu).
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn là có căn cứ và hợp pháp.
Sau khi thụ lý đơn, Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng chị được đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Trường hợp sau khi hòa giải, vợ, chồng chị đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của vợ chồng chị.
Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của vợ chồng chị khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: hai bên thực sự tự nguyện ly hôn; hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, con.
(Điều 54, Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 396, Điều 397 Bộ Luật Tố tụng Dân sự)

Đề nghị cho biết những người được trợ giúp pháp lý trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình?
Theo quy định pháp luật, người được trợ giúp pháp lý gồm:
  1. Người có công với cách mạng.
  2. Người thuộc hộ nghèo.
  3. Trẻ em.
  4. Người thuộc dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
  5. Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
  6. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.
  7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:
  • Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
  • Người nhiễm chất độc da cam;
  • Người cao tuổi;
  • Người khuyết tật;
  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;
  • Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;
  • Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
  • Người nhiễm HIV.
(Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý)./.
 
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây