Đánh lên một tiếng chiêng đồng

Thứ tư - 10/04/2019 00:14
Cồng chiêng đã làm nên bản sắc văn hoá riêng của người miền núi. Lên miền núi trong những ngày lễ, ngày tết cổ truyền, mà không được nghe tiếng cồng chiêng, là điều không may mắn đối với khách miền xuôi, nó hạn chế sự hiểu biết về miền núi, về đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, về một “nền văn hoá cồng chiêng” mà sách báo đã nói khá nhiều, khá kỹ… và trên thực tế, nền văn hoá ấy vẫn đang tồn tại và phát triển.
Nói đến cồng chiêng, trước hết cũng phải nhìn xa, trông rộng ra một chút mới thấy hết giá trị của loại nhạc cụ dân gian đặc sắc này:  Ở nước ta, suốt từ Nam chí Bắc, hầu như nơi nào, dân tộc nào cũng có cồng chiêng, nhưng đặc sắc và hấp dẫn nhất vẫn là cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Ngày 25 - 11 - 2005, tại Paris - thủ đô nước Pháp - UNESCO đã chính thức trao bằng công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là "kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể nhân loại". Cồng chiêng đã đi từ các buôn làng Tây Nguyên của Việt Nam đến với thế giới. Thật là thú vị khi cồng chiêng tưởng như cũ kỹ, lạc hậu, quê mùa, lại trở nên vang vọng, hoành tráng, thu hút được sự quan tâm của thế giới văn minh, hiện đại đến thế. Cồng chiêng là một thành tố quan trọng làm nên đời sống tinh thần (và cả vật chất nữa) của người Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số khác ở khắp mọi miền của Tổ quốc Việt Nam.

Cồng chiêng ra đời từ khi nào? Chưa thấy ai nói đích xác, chỉ biết rằng ở nước ta, từ thời bà Triệu (248 sau CN) đã biết sử dụng cồng chiêng. Ca dao có câu: “Muốn coi lên núi mà coi / Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”. Rõ ràng, cồng chiêng đã có một vai trò quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam. Coi nhẹ cồng chiêng là coi nhẹ một bản sắc văn hoá thấm đẫm tính nhân văn của dân tộc, là coi nhẹ một di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.

Ở huyện miền núi Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An) hiện nay, ước tính sơ bộ còn có khoảng trên dưới 200 bộ cồng chiêng, cả cổ lẫn mới. Đồng bào cùng hiểu một cách thống nhất: Có núm tròn nổi lên ở giữa thì gọi là Chiêng; không có núm, mặt bằng phẳng thì gọi là Cồng. Tuy nhiên, cách sử dụng thì có nhiều điểm khác nhau do phong tục của từng dân tộc. Giàn chiêng của người Thái và người Thổ thường có bốn chiếc, còn người Kinh thường chỉ sử dụng một đến hai chiếc, và chỉ sử dụng trong đám tang là chính. Nói cồng chiêng cổ, tức là nói tới loại cồng chiêng đã có từ lâu đời, do đồng bào đổi (hoặc mua) được với người Kinh ở miền xuôi mang lên, hoặc người Lào ở phía trên mang xuống. Loại cồng chiêng này được liệt vào loại quý hiếm bởi nó bền, dầy thành, có số lượng vàng hoặc đồng đen nhất định được dát trong núm Chiêng hoặc thành mặt của Cồng để điều chỉnh âm thanh, khi đánh, âm thanh vang đi rất xa, tiếng ấm và ngân dài hơn.

 
chieng1
Bộ chiêng cổ của một gia đình người Thái, xã Châu Tiến, Quỳ Hợp

Trước những năm 1990, khắp các bản làng của người Thái và người Thổ ở Quỳ Hợp, còn khá nhiều bộ cồng chiêng cổ, có bộ được đổi từ những năm đầu thế kỷ 20, đến nay đã tròn trăm tuổi, mà núm chiêng vẫn còn sáng bóng! Còn nói đến “cồng chiêng mới” tức là muốn nói tới những bộ cồng chiêng vừa được mua về từ hơn vài chục năm lại nay, mặc dù cũng đều được đúc bằng đồng thau thực sự, nhưng chiêng thì núm mỏng hơn, không tròn đầy; cồng thì thành mặt mỏng, đánh không vang xa, thường hay bị rè âm…
chieng
Biểu diễn chiêng trống và kèn của người Thổ ở xã Nghĩa Xuân - Ảnh: Thái Tâm
Điều đáng tiếc là ngày nay, cùng với sự ra đi của nhà sàn…  thì cồng chiêng cũng ra đi mà “không một lời báo động”! Đồng bào bán cồng, bán chiêng chủ yếu là ở ngay tại nhà mình, bán cho những người chuyên làm nghề “lái cồng chiêng”. Nghe nói họ mang đi rất xa, tận bên Lào và Thái Lan. Một bộ cồng chiêng cổ (gồm 4 chiếc) mua ở Quỳ Hợp có giá từ 3 đến 4 triệu đồng, sang đến Lào và Thái Lan, đã có giá lên tới xấp xỉ từ 20 đến 30 triệu đồng…!?

Không thể thống kê được số lượng những bộ cồng chiêng đã được đồng bào bán đi, chỉ biết rất nhiều hộ đã dày công cất giữ những bộ cồng chiêng của gia đình mình, coi như báu vật thiêng liêng, lưu giữ đến cả ba đời người, sang đời thứ  tư thì con cháu đem bán tống bán tháo với giá rẻ mạt, chỉ là để mua loa đài thời hiện đại.

Các làng người Thổ ngày nay, thậm chí ngày tết, ngày lễ cũng đã vắng hẳn tiếng cồng chiêng. Các bản người Thái thì còn khả dĩ hơn, nhưng tết vừa qua, tiếng cồng chiêng cũng đã vắng đi rất nhiều so với năm ngoái. Hiện tượng loa đài, nhạc nhảy ầm ĩ, chát chúa suốt ngày… đang lấn át cồng chiêng, không chỉ trong các lễ hội, mà ngay cả trong những dịp tết cổ truyền… đã và đang làm cho nhận thức của một lớp trẻ mới lớn lên, phần nào coi nhẹ những giá trị văn hoá truyền thống của cha ông mình để lại. Họ coi cồng chiêng là thứ cũ kỹ, lạc hậu, có để lại cũng vô dụng, chật nhà, mà không biết rằng, đó là vật báu thiêng liêng, biểu tượng cho tâm hồn của một dân tộc có văn hoá lâu đời, được cả thế giới văn minh ngưỡng mộ. Còn nhớ khi có nạn “chảy máu nhà sàn” thì chúng ta nói rất nhiều và có nhiều biện pháp để gìn giữ, còn cồng chiêng ra đi thì chưa thấy ai nói gì?

Chúng tôi - những người làm công tác sưu tầm, lưu giữ văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số ở huyện miền núi Quỳ Hợp - xin được phép đánh lên một tiếng Chiêng đồng cho ai cũng nghe thấu cái âm thanh của tiếng vàng, tiếng bạc - những âm thanh đã tạo nên một trong những chất liệu chính của văn hóa dân gian muôn thuở nước non này.


 

Tác giả bài viết: Thái Tâm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây